Saturday, June 18, 2016

Tháp tùng TT Nguyễn Văn Thiệu vào An Lộc

Tháp tùng TT Nguyễn Văn Thiệu vào An Lộc

An Lộc tỉnh lỵ Bình Long là một trong ba mặt trận ác liệt nhất trong mùa hè đỏ lửa 1972. Đại quân Cộng sản Bắc việt quân số 40.000 người có xe tăng pháo binh yểm trợ đã phong tỏa thị xã này trong gần ba tháng. Ngày 7/7/1972 Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu đã có một quyết định dũng cảm, ông đi vào nơi nguy hiểm nhất để tôn vinh những chiến binh tử thủ An Lộc, thăm quân cán chính và người dân còn kẹt trong thị xã. Nam Nguyên lúc đó là đặc phái viên của Hệ thống Truyền thanh Quốc gia kể lại chuyến đi mà chỉ có mình anh là phóng viên tường thuật và một thu hình viên được tháp tùng.

Công tác đặc trách mặt trận An Lộc của tôi thực sự kết thúc vào ngày 7/7/1972 với kỷ niệm không bao giờ quên. Hôm đó tôi được lệnh vào Đài Phát Thanh Saigon rất sớm, lệnh trên là chuẩn bị máy cassette và băng pin đầy đủ… đi đâu làm gì không biết và thêm một lệnh đặc biệt nữa, từ lúc này không được điện thoại liên lạc với bất kỳ ai.

Mọi việc dần dần sáng tỏ trong chuyến đi được bảo mật khác thường, tôi là hành khách của một trong hai chiếc trực thăng UH1D nhưng dành cho VIP có ghế đàng hoàng, người ngồi đàng trước tôi là Đại tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham mưu trưởng QL.VNCH. Máy bay bên kia là Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và ông Hoàng Đức Nhã, Tổng trưởng Dân Vận Chiêu Hồi một người có nhiều ảnh hưởng với Tổng thống…

Cho đến khi nhận ra những hàng cây cao su bạt ngàn và màu đất đỏ, tôi biết mình đang một lần nữa bay vào An Lộc…Bởi vì những ngày tháng đặc trách mặt trận An Lộc, tôi đã từng bị rơi trực thăng trong rừng vào ngày 29/4/1972 cũng như đã vào được An Lộc ngày 13/6/1972 để gửi về bài tường trình tại chỗ có lời tướng tử thủ Lê Văn Hưng…

Lần này ngày 7/7/1972 cũng bãi B15 gần thị xã, trực thăng đáp an toàn, có lẽ vòng vây địch đã bị đẩy ra xa hơn, các cao điểm như đồi Đồng Long, đồi 100 đã được tái chiếm, nhưng Đồi Gió, phi trường Quản Lợi vẫn ở trong tay quân Bắc Việt. Nói theo các nhà quân sự, vòng vây đã dãn ra xa hơn nhưng địch quân vẫn chiếm những vị trí có thể quan sát thành phố An Lộc đổ nát… Địch không pháo kích lúc máy bay đáp xuống bãi B15 gần thị xã mà mật danh truyền tin là Khánh Ly, hơn nữa Không quân sẽ phải dọn vùng rất cẩn thận để bảo vệ Tổng thống.

Cựu Chuẩn tướng Mạch Văn Trường là một sĩ quan tử thủ An Lộc, lúc đó ông là Đại tá Trung đoàn trưởng Trung Đoàn 8 SĐ5 BB. Ông Mạch Văn Trường và gia đình hiện định cư ở Houston Texas Hoa Kỳ, do sức khỏe chưa hồi phục hoàn toàn sau khi lâm trọng bệnh, cựu Chuẩn tướng Mạch Văn Trường nói vắn tắt:

“An Lộc là chiến trường cô đơn, nguyên thủ quốc gia đến thăm thì tinh thần quân dân ai cũng lên dữ lắm…”

Ngày 7/7/1972 Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trong tư cách Tổng tư lệnh quân đội đã có một chuyến đi lịch sử, ông đi vào nơi nguy hiểm nhất nơi mà ông đã ra lệnh tử thủ, thăm quân cán chính và người dân còn kẹt trong thị xã. Tôi đã chứng kiến những hình ảnh bi hùng, có lẽ Tổng thống Thiệu đã đọc bài diễn văn ứng khẩu hay nhất trong sự nghiệp chính trị của mình. Ông leo lên một chiếc PT76, một trong hàng chục chiến xa của địch bị bắn hạ ngổn ngang trên Dốc Tử Thần. Cử toạ của ông không phải là những nghị sĩ dân biểu com-lê cà vạt, họ là những chiến binh áo trận tả tơi, dân quân cán chính thiếu ăn ở Bình Long, những người sống sót sau những tháng dài bị vây hãm. Những tràng pháo tay này mới thực sự xuất phát từ trái tim, không phải những tràng pháo tay từng làm gián đoạn những bài diễn văn về chính sách quốc gia, khi ông đọc trước lưỡng viện Quốc hội. Ở những nơi chốn đó có những tràng pháo tay vì lợi nhuận chính trị, vì tham vọng quyền lực.
Nghĩa trang Biệt Cách Dù bên hông chợ nhỏ An Lộc. Thời gian này, Liên đoàn 81 Biệt cách dù đã rời An Lộc nhưng trước khi đi họ đã xây dựng khu nghĩa trang tươm tất hơn, có đài tưởng niệm khắc hai câu thơ huyền thoại: “An Lộc địa sử lưu chiến tích-Biệt cách dù vị quốc vong thân.” Hình chụp từ sách của Lê Đắc Lực

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu được tướng Lê Văn Hưng lái xe Jeep đưa đi thăm thị xã An Lộc, lúc ông đứng trên Đại lộ Hoàng Hôn địch quân đã pháo một lượt đạn vào An Lộc. Ông Nguyễn Văn Thiệu cười và nói đấy là họ chào mừng tôi. Tất nhiên vị nguyên thủ quốc gia đã không quên viếng thăm nghiã trang Biệt Cách Dù bên hông chợ nhỏ An Lộc. Thời gian này, Liên đoàn 81 Biệt cách dù đã rời An Lộc nhưng trước khi đi họ đã xây dựng khu nghĩa trang tươm tất hơn, có đài tưởng niệm khắc hai câu thơ huyền thoại: “An Lộc địa sử lưu chiến tích-Biệt cách dù vị quốc vong thân.”

Công việc của tôi trong chuyến đi đặc biệt ngày 7/7/1972 là tường thuật tại chỗ ghi âm ngay từ khi trực thăng của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đáp xuống bãi B15. Tường thuật liên tục ngoại trừ những khi Tổng thống phát biểu. Tôi được lệnh khi về Đài chỉ cắt đi những đoạn trống và cho phát ngay trên Hệ thống Truyền thanh toàn quốc. Đi cùng với tôi có một Cameramen và bên Đài Truyền hình được chỉ thị sử dụng toàn bộ bài tường thuật tại chỗ của tôi và hình ảnh lồng theo đó.

Địch quân đã không chiếm được An Lộc để làm Thủ đô cho MTGP, nhưng thị xã hoang tàn đổ nát này vẫn chưa hết nguy hiểm. Ngày 9/7/1972, sau chuyến đi của Tổng thống Thiệu hai ngày, tướng một sao Richard Tallman của Quân đội Hoa Kỳ đã tử thương tại bãi B15 vì đạn pháo kích, ngay khi ông vừa rời trực thăng. Ông là vị tướng cuối cùng của quân đội Hoa Kỳ tử trận trong chiến tranh Việt Nam.

Vì sao CS không thể chiếm An Lộc?

Tại sao, với quân số 4 sư đoàn có xe tăng, pháo binh, pháo phòng không yểm trợ mà quân cộng sản Bắc việt lại không thể chiếm được An Lộc hoặc buộc quân tử thủ phải đầu hàng? Cựu Trung tá Bùi Quyền vào tháng 4/1972 mang cấp bậc Thiếu tá Trưởng ban 3 hành quân của Lữ đoàn 1 Nhảy dù, đơn vị tăng viện trực tiếp chiến đấu bên trong An Lộc. 40 năm sau khi giã từ vũ khí, cựu Trung tá Bùi Quyền từ Bắc California Hoa Kỳ nhận định:

“Giữ cho được phần đất của mình đấy là quan niệm cuối cùng của người lính. Khi đã ở trong đó rồi thứ nhất lệnh của ông Tổng tư lệnh là giữ cho bằng được… chết hết thì thôi và người dân cũng chấp nhận như vậy vì người ta không có lối chạy, còn quân đội bắt buộc phải ở tại chỗ rồi. Địch quân có thể tính lầm chuyện họ nghĩ với bom đạn pháo kích như vậy thì người lính sẽ nao lòng, sẽ phải bỏ ngũ mà họ quyên rằng, bỏ ngũ cũng chết vì ra khỏi cái hố của mình thì có thể chết rồi. Đó là lý do mà dân cũng như quân đều chấp nhận. Có những người dân thuần túy như nhân dân tự vệ mấy em trong đó họ cũng cầm súng họ đánh như thường vì biết rằng không đánh thì cũng chết…Đó là lý do chính còn những danh dự trách nhiệm thì nó hơi cao, thực sự lúc đó trước cái chết thì ai cũng phải chống cự để mà sống. An Lộc vững là vì thứ nhất quân ở trong đó thừa lệnh giữ và thứ hai nữa là trên phương diện chiến trường địch bao vây chung quanh ra rồi còn chết dễ hơn ở trong đó.”
Chiến trường An Lộc 1972. Hình chụp từ sách của Lê Đắc Lực

 


Với 7 trận tấn công thẳng vào An Lộc trong hai tháng 4 và 

5/1972 quân CSBV tổn thất 27 xe tăng bên trong thị xã. Trong hồi ký “Trận An Lộc 93 ngày”, Cựu Chuẩn tướng Mạch Văn Trường kể lại trong trận tấn công đầu tiên vào An Lộc ngày 13/4/1972 địch quân đã bị tổn thất 15 chiến xa, 3 chiếc do trực thăng vũ trang Cobra của Hoa Kỳ bắn hạ, còn 12 chiếc khác bị quân trú phòng hạ. Từ Houston Texas cựu Chuẩn tướng Mạch Văn Trường phát biểu:

“Trung đoàn 8 của tôi, lúc đó là Trung đoàn mạnh nhất thành ra ông tướng Hưng giao cho Trung đoàn 8 giữ mặt Bắc là hướng chính địch đánh từ Bắc xuống Nam từ Lộc Ninh xuống An Lộc. Thành ra tôi cũng có ý kiến là bây giờ nếu địch đánh cấp sư đoàn mà địch có chiến xa thì phải đối phó bằng cách nào? Chuyện đối phó bằng ly cách giữa bộ binh và chiến xa chuyện này nếu mà còn có sức để kể thì nghe hay lắm….có nhiều cái đặc biệt lắm tôi rất tiếc không có sức khỏe …”

Trong số các đơn vị VNCH bên trong An Lộc, chỉ có nhảy dù từng thử lửa với chiến xa địch ở mặt trận ngoại biên, tuy nhiên không phải ở mức độ qui mô như trong trận An Lộc.

Cựu Trung tá nhảy dù Bùi Quyền nhận định về sự kiện xe tăng địch quân chạy vào bên trong An Lộc đều bị hạ. Ông nói:

“Đánh xe tăng thì có thể các đơn bị bộ binh ở trong đó họ chưa đánh bao giờ nhưng nhảy dù thì đã đánh với xe tăng nhiều lần, từ Hạ Lào cho tới Cămpuchia…Thực sự cũng không có gì đáng sợ lắm vì nó (xe tăng) chỉ có hỏa lực thôi, nó không có bộ binh đi kèm thì chỉ là những mồi ngon thôi…nó đóng kín và chạy thì có thấy gì đâu, trong An Lộc xe tăng nó bắn nhưng không ngóc được đại bác lên trên cao cho nên ở trên những tầng lầu ‘sút’ nó…thứ hai An Lộc nhỏ lắm, bắn phía sau nó tất cả vũ khí bắn phía sau nó là nó tiêu, hoặc là bắn cháy xích nó thì nó tiêu…An Lộc nhiều hẻm lắm mà dân ở trong đó những toán đi diệt tăng là dân địa phương từ phía sau xịt M72 trúng là nó bị… sau này Mỹ đưa loại hỏa tiền chống chiến xa trang bị trên trực thăng Cobra thì bắn trúng là tiêu.”

Cựu Đại úy Biệt Cách dù Lê Đắc Lực người từng được trực thăng vận vào An Lộc ngày 15/4/1972. Từ Houston Texas nơi quê hương tạm dung, ông Lê Đắc Lực hồi tưởng:

“Từ trước tới nay chúng tôi chưa bao giờ chạm địch mà có chiến xa yểm trợ, là những người chuyên nghiệp trên các mặt trận chúng tôi có giao động một đôi phút đầu tiên thôi. Bọn tôi nhảy vào trong đó thấy được chiến trường lúc đó đã quá bi đát rồi, hơn nữa lại đụng phải chiến xa của địch, chúng tôi rất giao động, nhưng chúng tôi là lực lượng đưa vào để giải quyết và tiếp cứu chiến trường nên tinh thần chiến đấu vẫn vững vàng, dưới quyền chỉ huy của Trung tá Phan Văn huấn chúng tôi đã được tác động rất mãnh liệt và không chùn bước chiến đấu diệt tăng, chúng tôi đã thành công với chiến thuật diệt tăng bằng những quả đạn đại bác nhét TNT vô và dùng con cóc của mìn Claymore để bắt vào đó và đặt trên đường. Khi chiến xa đi qua chúng tôi bấm cho nổ quả đạn, ngoài việc sử dụng XM 202 và M72 chúng tôi sử dụng cách đó rất có hiệu quả, xe tăng địch bị phá hủy và trên đường tạo ra những lỗ hổng lớn xe tăng tới sau không vượt qua được. Nhờ phát kiến của Trung tá Huấn cho nên xe tăng không còn là một trở ngại lớn đối với Liên đoàn 81 Biệt cách chúng tôi.”

Mặt trận An Lộc để lại những ký ức mà tôi không thể quên trong đời phóng viên. Từ việc trực thăng bị bắn rơi ở vành đai An Lộc ngày 29/4/1972 tới dấu ấn 13/6/1972 vào được An Lộc gởi về bài tường trình tại chỗ với cuộc phỏng vấn tướng Lê Văn Hưng và sau cùng là chuyến tháp tùng Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vào An Lộc ngày 7/7/1972. Một giai đoạn lịch sử đã kết thúc, nhưng trong giấc ngủ đôi khi tôi nghe tiếng cánh quạt trực thăng phần phật gió và tiếng đạn pháo nổ nháng lên ánh lửa màu da cam.

Nam Nguyên, phóng viên RFA

Trận đánh An Lộc, mùa hè năm 1972 (6) / Website Hưng Việt

Cuối tháng 6, 1972 sau hơn hai tháng An Lộc bị bao vây, Lữ Đoàn 1 Nhẩy Dù, Liên Đoàn 81 Biệt cách Dù đã rút ra để sau đó được chuyển ngay ra chiến trường Quảng Trị để tiến công tái chiếm Cổ Thành tại Thị Xã này, vì VNCH không còn quân trừ bị nữa. Hai Lực Lựơng tinh nhuệ này không có thì giờ nghỉ ngơi tiếp tục ngay sứ mệnh chiền đấu khi tổ quốc lâm nguy. Giữa tháng 6, sau cuộc bắt tay từ Nam lên, từ Bắc xuống của hai đại đội Nhẩy Dù, một từ ngoài vào, một từ trong hàng phòng thủ tiến ra, vài ngàn dân trong thị xã gồm hầu hết phụ nữ, trẻ em, người gìa cả, bị ốm đói thương tật suốt hai tháng bị bao vây đã lên đường tiến ra QL 13 đi bộ xuôi Nam về Chơn Thành, sau nhiều tổn thất nặng do VC chận phá, bắt bớt người, cuối cùng đoàn dân tị nạn thảm thương này cũng về đến bên VNCH, tuy nhiên một số không nhỏ đã nằm xuống vì đạn pháo của VC và kiệt sức. Các trại tị nạn Phú Văn 1,2 được lập ra ở Bình Dương được lập ra cho họ tạm thời cư ngụ. Hơn năm sau đó, một số lớn được đưa lên định cư ở Long Khánh, lập nhà, vườn tược bắt đầu xanh tười thì tháng Tư năm 1975 ập tới, lại một lần nữa đoàn người tị nạn năm nào ở An Lộc lại bị ngập tràn trong máu lửa.


.
 
 
Hầu hết lực lượng của SĐ 5 trấn giữ An Lộc từ trước và trong suốt thời gian Thị Xã bị bao vây đã được rút ra, được thay quân bằng SĐ 18 BB. Còn bộ chỉ huy của Tướng Hưng, Lê văn Hưng lúc này đã được lên một chức từ Nhiệm Chức trong những ngày đầu tử thủ An Lộc, còn nằm lại điều khiển chiến trường và chuẩn bị đón TT Nguyễn văn Thiệu lên thăm thị xã để chính thức cho thấy đại quân VC đã bị thảm bại khi bao vây tiến đánh An Lộc trên hai tháng trời. Chuẩn Tướng Thực Thụ Hưng đã có quân phục mới thẳng nếp, ngôi sao mới, quân phục đẹp nhất trong các hình chụp chung với các cấp lãnh đạo VNCH cao cấp. Tóc hớt cao, mặt trắng trẻo vì ở lâu trong hầm, Tướng Hưng tươi cười hướng dẫn phái đoàn quan sát sự điêu tàn của Thị Xã An Lộc. Nhất tướng công thành, vạn cốt khô của bên VC ngoài xa và cả trong Thị Xã An Lộc gần như bị san bằng với nhiều ngàn quân và dân thị xã đã nằm xuống, quyết chí hy sinh tử thủ chứ không đầu hàng.


Sư Đoàn 1 Không Kỵ của quân đội Hoa Kỳ, lực lượng chính yiểm trợ không chiến và tiếp liệu cho thị xã An Lộc, với những máy bay trực thăng mới nhất cho chiến trường, những phi công gan lì, đã được huấn luyện kỹ càng, thêm nhiều kinh nghiệm chiến trường đã đưa phái đoàn của TT Nguyễn văn Thiệu vào An Lộc trong bí mật được chuẩn bị rất kỹ. Không thấy nói chính xác cách họ đổ xuống như thế nào từ đâu, nhưng có lẽ vẫn có các phị vụ trực thăng lên xuống bãi đáp B15 đầu Thị Xã như thường lệ, chuyện này không có gì khác lạ đối với VC, vì nơi đáp là mặt đường QL 13, nằm giữa hai rừng cao su bên hướng Tây che mặt Xa Cam hay xã Thanh Bình, bên hướng Đông che mặt Đông từ đồi Gió tới, nên khi nghe thấy tiếng động cơ và quan sát thấy trực thăng từ trên mây cao đổ xuống, thì pháo binh VC bắt đầu bắn cầm chừng cầu may vào khoảng đáp này chứ khó điều chỉnh cho chính xác vì không quan sát rõ ràng từng chiếc trực thăng đuợc từ xa.


Ngày 7 tháng 7, sau các chuyến lên xuống của trực thăng tại bãi đáp B-15 ngoài phạm vi Thị Xã để cho pháo binh VC chú ý đến đó như thường lệ, thì một vài trực thăng của SĐ 1 Không Kỵ Hoa Kỳ từ trên cao bất thần đổ xuống Sân Vận Động ngay kế bên Tòa Hành Chánh Bình Long nơi đặt hầm phòng thủ của Tướng Hưng trong suốt cuộc bao vây. Sau đó với xe Jeep, TT Thiệu đã được đi một vòng quan sát Thị Xã và thắp nhang tại Nghĩa Trang của Biệt cách Dù 81, ngay bên cạnh một nhà lồng chợ gần tan nát hết của An Lộc.




Cuộc thăm viếng, thị sát của TT Thiệu đã đánh đấu chính thức sự thất bại của đại quân VC không dứt điểm đuợc thị xã An Lộc, và TT VNCH đẵ đến được nơi này bình an, chính thức coi như Thị Xã vẫn đứng vững trong lãnh thổ của VNCH. Sau đó các trực thăng của SĐ 1 Không Kỵ lại từ trên cao bất ngờ đáp xuống, bốc phái đoàn cao cấp nhất VNCH trở về bộ chỉ huy của SĐ 5 tại Lai Khê, sau đó có bữa picnic khoản đãi để cảm tạ sự hy sinh của đơn vị SĐ 1 Không Kỵ Hoa Kỳ này tại đây. Vào buổi tối cùng ngày, trên chương trình của Đài Truyền Hình, cả nước và chính VC cũng được coi, đã nhìn thấy những hình ảnh kiêu hùng của An Lộc, thấy sự hy sinh nặng nề của quân dân An Lộc, vẫn đứng vững trong cuộc bao vây trên hai tháng trời của đại quân VC. Đây là một chiến thắng về tâm lý chung của toàn lãnh thổ VNCH, làm cho VC bối rối bực mình trong chuyện không ra mắt được thủ đô của MTGPMN là chánh phủ bù nhìn của Bắc Việt, VC dựng lên trong miền Nam


Từ tin tức TT Thiệu đã vào An Lộc thị sát, tưởng thưởng binh sĩ, tuy nhiên những hình ảnh chụp chung với binh sĩ thì lại là các đơn vị của SĐ 18 vừa vào thay thế, chứ không phải các chiến sĩ tiều tụy gần kiệt sức của SĐ 5 và Tiểu Khu Bình Long. Chuyến thăm viếng bất ngờ này của TT Thiệu nằm ngoài vòng dự tính của quân VC, họ vẫn còn đang kiểm soát bầu trời An Lộc bằng phòng không và đại pháo đủ loại, VC bị sự bất ngờ để thoát dịp cho TT VNCH vào An Lộc đi quan sát Thị Xã làm VC mất mặt quá, nên chiến trường An Lộc lại được VC chú ý hơn nữa, tiền sát viên phải quan sát kỹ những lần bay vô thị sát sau đó hơn của bộ chỉ huy quân đội Việt Mỹ, nếu không chiếm được AL, thì VC vẫn có cơ hội bắn pháo trúng các nhân vật quan trọng Việt Mỹ thích vào đây quan sát như TT Thiệu của VNCH đã từng làm..


Cuộc viếng thăm của TT Thiệu đã gây chú ý cho tiền sát viên pháo binh VC, họ được lịnh bám sát hơn nữa không bỏ lơ là các chuyến viếng thăm vào các ngày sau đó, sẽ có các phóng viên, truyền hình, mang hình ảnh đứng vững của An Lộc ra ngoài thế giới. Đúng như vậy, hai ngày sau chuyến thăm của TT Thiệu, vào ngày 9 tháng 7, có một chuyến đi thị sát vào An Lộc của Chuẩn Tướng Mỹ Richard Tallman, tham mưu trưởng cố vấn của Quân Đoàn 3, vừa nhậm chức trước đó sau khi là cố vấn trưởng của SĐ 18 bộ binh VNCH, ông và tùy tùng vào An Lộc thăm SĐ 18, khi trở ra thì bị pháo VC theo dõi từ trước, bắn pháo vào trước khi trực thăng cất cánh tại bãi đáp, gây tử thương cho tướng Tallman, và hai sĩ quan cao cấp Hoa Kỳ cấp tá tháp tùng. Tướng Tallman là vị tướng cuối cùng tử thương trên chiến trường VN. Pháo binh VC đã gây được chiến thắng lớn sau cùng trên An Lộc là gây tử thương cho một tướng lãnh, một Chuẩn Tướng Hoa Kỳ. Như vậy trong chiến dịch đánh An Lộc Bình Long, VC gây tử thương cho Đại Tá Trương Hữu Đức, Thiết Đoàn 5 Kỵ Binh ở Bắc Chơn Thành bằng súng Phòng Không bắn trúng trực thăng chỉ huy, trên An Lộc thì Pháo Binh VC gây tử thương cho một Chuẩn tướng Hoa Kỳ.


Không ngờ đây là một may mắn của pháo binh VC, tuy nhiên cũng là một sơ hở, một hớ hênh của bên Hoa Kỳ, không dự đoán là cuộc viếng thăm của TT Thiệu từ hai ngày trước đó đã làm cho VC mất mặt, gây chú ý cho pháo binh VC bám sát, quan sát kỹ sự lên xuống của trực thăng trong thị xã hơn. Ngoài ra, toán trực thăng này chắc chắn không đáp ngoài bãi B-15, mà đáp ngay trại B-15, nơi khá cao khá trống trải bị quan sát dễ dàng từ ngoài xa, đáp ở đây thì ngay trong thị xã không phải di chuyển xa. Cỏ lẽ trực thăng vẫn nằm tại chỗ chờ đón ông tướng này đi ra, nên VC có đủ thời gian chấm tọa độ hay là khi đáp xuống đã bị pháo VC rình rập chờ sẵn. Nói chung là cái xui của ông Tallman và là cái may mắn của pháo binh VC, tuy không chiếm được thị xã An Lộc, diệt được Chuẩn Tướng Hưng, nhưng cuối cùng may mắn gây tử thương cho Chuẩn Tướng Mỹ Tallman. Tin tức này hoàn toàn được Hoa Kỳ giữ kín khi đó, chỉ biết Tướng Mỹ này tử thương trên chiến trường VN vì tai nạn trực thăng, chứ không nói rõ ở đâu, mặt trận nào. Cái chết của ông được bên Hoa kỳ ghi nhận là “xui xẻo, không cần thiết” vì Tướng Mỹ này không có nhiệm vụ trên chiến trường An Lộc, ông trước đó là cố vấn của SĐ18, sau về làm tham mưu trưởng cho cố vấn Quân Đoàn 3 là Tướng Hollingsworth, ông Tallman chỉ làm một chuyến bay vào An Lộc cho biết nơi này ra sao thôi nhân dịp có các đơn vị của SĐ18 vào đây thay quân.


Sau đó thì các cuộc viếng thăm An Lộc của các cấp chỉ huy cao cấp Mỹ, vì tò mò hay vì lý do khác, vẫn được an toàn diễn ra, có lẽ vì họ đã thay đổi chiến thuật lên xuống trực thăng, cẩn thận hơn, như Tướng Hollingsworth, cố vấn Quân Đoàn 3, ra vào nhiều lần với các nhân vật cao cấp mà không sao. Trong các bài viết về An Lộc trên Net, tôi có đọc những đoạn, có Sĩ Quan cao cấp không quân VNCH than phiền là có sự thỏa thuận giữa Hoa Kỳ và VC, các trực thăng Hoa Kỳ sơn trắng dưới đáy để VC không bắn, họ vào ra tiếp tế thực phẩm cho các cố vấn Mỹ mà không sao? . Sự thật ở đây cho thấy trong chiến trường này, không có cấp tướng VNCH nào hy sinh mà chỉ có tướng Mỹ Tallman hy sinh khi đi trực thăng vào An Lộc, ngoài ra có trên 50 nhân viên phi hành, phi công Mỹ tử thương trên An Lộc. Như vậy tỷ lệ thiệt hại nhân mạng của các sĩ quan không quân Hoa Kỳ là cao nhất so sánh với toàn thể các đơn vị VNCH tham chiến. Chưa kể vào ngay ngày đầu trận Lộc Ninh, trung tá cố vấn trưởng Hoa Kỳ tự sát sau khi bị thương nặng và các sĩ quan cố vấn khác cũng tử thương hay bị bắt sống, sau này mới được trao đổi tù binh sau hiệp định Paris.


Còn nhìn sơn trắng dưới đáy trực thăng Mỹ mà bắn hay không bắn, thì ai từng cầm súng, nhìn lên trời chói sáng, nghe tiến trực thăng đến vù vù, có thể cùng với đại liên và hỏa tiễn từ trên bắn xuống tới tấp đỏ rực thì ở đó mà còn có thời giờ phân biệt được chiếc trực thăng có sơn trắng bên dưới hay không ?. Tại sao VC không bắn những trực thăng lẻ tẻ mà pháo ngay trực thăng của tướng Tallman khi ông này sửa soạn trở ra cất cánh khỏi An Lộc. Chẳng qua là VC ngáp trúng ruồi, còn từ trên trời cao, máy bay ào ào phóng qua thời gian chì vài giây, ở đó mà phân biệt được chiếc nào là ruồi cái, chiếc nào là ruồi đực, để mà không bắn, tất cả đều bị VC bắn hết. Chẳng qua, máy bay Mỹ, sĩ quan Mỹ, họ học bay từ Mỹ, dĩ nhiên tiếng Mỹ là tiếng mẹ đẻ họ, ở đây là sĩ quan Mỹ bay giỏi hơn, trình độ sĩ quan Mỹ phải tốt nghiệp đại học, máy bay họ được bảo trì tốt hơn, bay giỏi hơn, nhát gan hơn nên bay cẩn thận hơn và họ là thầy dậy bay cho các phi công VNCH, cho nên tỷ lệ họ bị bắn hạ dĩ nhiên ít hơn, vì số lượng máy bay tham dự của họ có thể ít hơn, hay chính họ có nhiều chiến thuật, kỹ thuật khác lạ hơn. Dẫu sao chính họ đã phát minh ra trực thăng, bay giỏi hơn, phát minh ra chiến thuật, chiến lược rồi mới truyền lại cho học trò phi công VNCH, có giới hạn về tiếng Mỹ, giới hạn về bảo trì, thì Không Quân VNCH cứ than là thiệt hại của mình cao hơn, hay VC có thỏa thuận không bắn vào trực thăng Mỹ. Thấy thiệt khôi hài, cái chết của tướng Tallman đã trả lời cho chuyện này.


Các máy bay của không lực Mỹ thường sơn trắng bên dưới, vì khi nhìn từ dưới lên, máy bay sẽ lẫn với mây trắng đó là yếu tố ngụy trang, nhìn từ trên xuống thì họ sơn mầu rằn ri ngụy trang lá cây để nhìn từ trên xuống thì lẫn với cây rừng. Còn trực thăng thì có khi sơn cả máy bay mầu xám hay trắng nhạt, dùng cho các chuyến tải thương hay phi vụ đặc biệt, còn đa số trực thăng Mỹ đều sơn xanh lá cây đậm mầu Olive đậm toàn thân y như những trực thăng chuyển giao cho không lực VNCH. Còn pháo thủ cao xạ bắn trực thăng, thì nguyên tắc phải bắn từ xa, bắn chận đầu trước khi máy bay tới, nên lúc đó khó mà thấy hay phân biệt được mầu sơn trắng dưới đáy vì rất nhỏ, lại từ xa, thường thì thấy ngang hông trực thăng là nhiều nhất, lúc đó là khai hỏa bắn chận đầu rồi, ít khi đợi trực thăng đến ngay đỉnh đầu mới bắn. nên chuyện quan sát được mầu trắng trực thăng Mỹ để không bắn, cho rằng phi công Mỹ bay vào An Lộc dễ hơn phi công VN, là chuyện khó tin. Ngoài ra các trực thăng chiến đấu Cobra Mỹ cũng bắn hỏa tiễn hạ rất nhiều tăng VC, như vậy không lẽ VC chịu chết, vẫn tránh bắn vào trực thăng Mỹ. Chiến trường hai bên đều cố giết nhau mà có chuyện tránh bắn trực thăng này. Chưa kể số sĩ quan phi công Mỹ bị hy sinh không nhỏ, nếu so với số lượng của phi công VN tham chiến trong trận An Lộc. Chưa kể lúc đó, Mỹ đang dội bom miền Bắc của VC để trả đũa các trận tiến xâm chiếm ở Miền Nam, kéo dài tới tận tháng 12, 1972, Mỹ dội B52 vào tận Hải Phòng và Hà Nội. Ở đó mà phòng không VC tha sống cho trực thăng Hoa Kỳ.


Còn giữa Người Pháp điều hành các đồn điền Cao Su trên tỉnh Bình Long và quanh An Lộc thì quan hệ giữa họ và VC đã có nhiều dàn xếp thỏa hiệp qua nhiều năm trong cuộc chiến. Họ đóng thuế, chi tiền, cung cấp nhiều thứ cho VC, xe đồn điền, phi cơ của người Pháp thường sơn mầu trắng và người Pháp cũng chuyên mặc đồ trắng khi hoạt động ở đây. Trong trận An Lộc cũng có một số người Pháp kẹt trong An Lộc, chịu pháo và cũng di tản ké máy bay trực thăng để ra khỏi An Lộc hay đi bộ thoát về nơi an toàn.



Nói chung là như vậy, nói riêng có thể có vài cá nhân hay nhiềuphi công VNCH bay rất giỏi và can đảm phi thường hơn phi công Mỹ, nhưng đừng nói ai không sợ chết, ai cũng sợ chết hết, nhưng ai can đảm hơn rời bỏ xứ Mỹ an lành bỏ gia đình êm ấm giầu có đi nửa vòng trái đất để chết trên cái xứ VN, có ai từ chối không bay vào An Lộc, không. Thành ra ông sĩ quan không quân VNCH nào, phi công nào đặt ra chuyện trên là điều lố bịch. Có nhiều phi công Mỹ chết mất xác, mà nhiều năm sau này mới tìm ra. Có nhiều quân nhân Mỹ ngày nay vẫn còn mất tích. Còn dĩ nhiên ở miền Nam, cũng có đầy người trốn lính, con ông cháu cha lính kiểng, chạy tiền không dám chiến đấu. Dĩ nhiên không phải sĩ quan Mỹ nào cũng can đảm, toán cố vấn Mỹ do một Trung Tá Mỹ cầm đầu đã từ chối theo Trung Đoàn 8 / SĐ5 vào An Lộc những ngày 10, 11 tháng 4 … vì sợ chết. Đó là toán cố vấn nhát gan nhất không dám tham dự trận chiến An Lộc. Trong suốt trận bao vây An Lộc sau Lộc Ninh, không có một cố vấn Mỹ nào tử trận, các toán cố vấn Mỹ đều được các binh sĩ trú phòng của VNCH bảo vệ an toàn.


Còn thiệt hại bên hàng ngũ chỉ huy cao cấp của VC ra sao ? chuyện này không bàn, vì VC không có tư cách … miễn sao chiến thắng là được, lính tráng, sĩ quan không đeo lon lá, không đeo tên, phải dùng bí danh, dấu tên thật như mèo dấu cứt, không quân số, ngay cái tên đảng CS cũng phải lừa bịp đổi thành đảng Lao Động cho khỏi có mùi CS quốc tế, để lừa bịp ai ngây thơ, tao đâu phải CS , có chữ CS nào đâu chỉ Lao Động thôi, sau 75, thắng xong thì lại Cộng Sản tuốt, thì chuyện gian manh láu cá, gian xảo là cách hành xử chung của CS, của VC nên không so sánh chuyện này. Quân VNCH và Hoa Kỳ theo đúng hiệp định quốc tế Geneve, có số quân, có quân phục, đeo tên, đeo lon lá chức vụ khi tham chiến, giống như truyện Tầu Tam Quốc Chí, tướng lãnh nói chuyện chào nhau trước khi tham chiến, không cần hèn hạ gian manh đá cá lăn dưa. Ai tử trận thì đều loan báo cho dù chức vụ cao tới đâu, gia đình làm lễ an táng công khai với lễ nghi có hình ảnh, đăng cáo phó trên báo chí tự do, phân ưu được thông báo đầy đủ, không cần phải dấu diếm. Hai cách hành sử khác nhau dựa trên hai nền tảng đạo đức khác nhau nên không bàn, không cần bàn thêm giữa thủ đoạn của VC, của các xứ CS (hay chỉ có VC, mới không dám đeo lon cấp bậc và xưng tên tuổi thật) và cách hành xử của các xứ Dân Chủ khác.


Kết luận của trận An Lộc, quân phòng thủ An Lộc đứng vững được là do tướng Hưng lên An Lộc với bộ chỉ huy SĐ 5 sau khi Lộc Ninh thất thủ, thay vì không vào An Lộc như SĐ 3 chạy ra khỏi Quảng Trị, do sự can đảm anh dũng của quân dân trú phòng, do sự anh dũng hy sinh của các lực lượng tiếp viện, và quan trọng nhất là do sự yiểm trợ tối đa và hy sinh cao của lực lượng không quân Việt Mỹ, nhất là phía Hoa Kỳ đã cung cấp mọi phương tiện kỹ thuật tiếp liệu cần thiết và không ngần ngại chịu sự hy sinh. Cho nên khi qua lần tấn công đầu năm 1975 để thăm dò của VC, khi thấy người Mỹ không trở lại chiến trường VN cho dù chỉ bằng không lực như B52 và tiếp liệu dồi dào thì VC tấn công thẳng luôn bằng các yiểm trợ tối đa của khối CS quốc tế đã tích lũy từ sau 72 tới 75. Trận tiến công sau cùng của VC chưa tới hai tháng, không so sánh được với trận An Lộc, VC đã xâm chiếm được trọn Miền Nam, Cộng Sản Quốc Tế đã cưỡng chiếm được được mảnh đất Tự Do, Miền Nam Việt Nam.

An Lộc đứng vững sau trận chiến hè 72, tuy nhiên chỉ còn là một ốc đảo, tiếp liệu di chuyển vào chỉ bằng trực thăng, còn đường bộ thì VC vẫn đóng chốt không khai thông được. VC tuy thất bại vào năm 72, nhưng đã học được bài học rằng chiến trường sẽ được quyết định bằng không quân Hoa Kỳ, khi không có Hoa Kỳ nữa, sau hoà đàm Paris, coi như phía Hoa Kỳ đã bán đứng Miền Nam Việt Nam, họ đã lấy lại được tất cả tù binh, bắt tay thỏa thuận ngầm với Trung Cộng, chia đôi được khối CS quốc tế, không có sự đoàn kết Nga Xô – Trung Cộng nữa, thì lần lần Mỹ sẽ phá vỡ toàn chủ nghĩa CS quốc tế do Nga Xô cầm đầu trên thế giới. Chiến trường VN chỉ là một chiến trường qúa nhỏ bé trên chiến lược toàn cầu to lớn của Mỹ. Sau chiến thắng 75 ở VN, khối cộng sản quốc tế do Nga cầm đầu tiến lên chuẩn bị biến toàn Đông Nam Á thành CS, Nga phải chi viện lớn hơn cho chư hầu VC vừa chiến thắng toàn xứ VN. Sau nhiều năm phải chi phí cao như vậy cho khối CS quốc tế, trong khi Nga phải ngửa tay xin được mua lúa mì của đối thủ Hoa Kỳ thì đến 1991, cộng sản Nga phải phá sản hết tiền và tự tan vỡ. Cuối cùng thì xứ Mỹ là xứ Mỹ, họ phục vụ quyền lợi người Mỹ trước. Mục tiêu của Hoa Kỳ sau thế chiến thứ 2 là đánh gục chủ nghĩa Cộng Sản, Mỹ chỉ làm điều có lợi cho họ, Mỹ đến VN là vì có CS Nga, CS Tầu đang xâm lấn nuôi dưỡng bành trướng chủ thuyết CS ở đây từ những năm 1920’s, nên khi Mỹ không cần phải có mặt tại VN nữa, ngay cả ở Phi Luật Tân, một thuộc địa cũ của Mỹ, mà họ cũng bỏ các căn cứ quân sự cuối cùng vào thập niên 1980’s, thì Hoa Kỳ không cần tốn tiền duy trì ảnh hưởng ở Miền Nam VN nữa. Việt Nam chỉ là một chiến trường cho Mỹ huấn luyện quân, tự do thử súng đạn vũ khí mới, so tài với vũ khí của cộng sản Nga-Tầu.

Chuyện đất nước VN, xứ sở VN, có định mệnh riêng của nó. Tôi viết về An Lộc là vì để cho An Lộc sống mãi trong lịch sử, cho những kỷ niệm gắn bó, một thời ấu thơ lớn lên có trí nhớ bắt đầu ở đây, An Lộc của tôi với một trời ấu thơ đầy kỷ niệm được giữ lại bằng các bài viết trong đây, xin giữ lại chút lịch sử trung thực hơn cho tất cả những ai đã có một lần gắn bó đến mảnh đất nhỏ bé này, nơi rừng thiêng nước độc, của một góc trời xa vắng không xa Saigon là mấy, nhưng ít ai biết đến trước khi trận An Lộc xầy ra … Từ nơi rất xa An Lộc, tôi viết cho những người đã nằm xuống:

An Lộc Địa, Sử ghi chiến tích
Biệt Cách Dù vị quốc vong thân

Ngày 30 tháng 4, 2012.

Duongtiden

Nguồn https://kientruc5sj.wordpress.com/2014/09/03/chien-truong-an-loc-mua-he-nam-1972-tiep-theo-bai-11-den-hoi-ket-thuc-by-duongtiden/

Tiếp đến là những bài phụ lục của An Lộc với các chi tiết chưa từng được ai để tâm tới, lần lượt sẽ đưa lên với rất nhiều hình ảnh của An Lộc mà ít ai nhìn thấy trước đây.


” other wrtting of An Loc battle on internet …quoted …:
Về trực thăng tiếp tế và tản thương.

– Tất cả các trực thăng tiếp tế cũng như tản thương của Không Lực Việt Nam Cộng Hoà đều không thể đáp xuống mặt trận An Lộc trong thời gian cuộc chiến đang sôi động . Dư luận của các cố vấn Mỹ cho là phi công Việt Nam Cộng Hoà nhát gan, sợ phòng không địch nên không muốn đáp xuống trận địa. Trong lúc đó thì phi cơ trực thăng tiếp tế của Hoa Kỳ vẫn đáp lên xuống đều đặn, đem đồ tiếp tế cho các cố vấn Mỹ của Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hoà và Tiểu Khu Bình Long, không chiếc nào bị phòng không Cộng Sản Bắc Việt ngăn cản.

– Theo lời tường thuật của Thiếu Tá Nguyễn Văn Ức đại diện Sư Đoàn 3 Không Quân Việt Nam Cộng Hoà, đích thân quan sát, đàm thoại và chứng kiến tận mắt, , cho biết : Sở dĩ trực thăng Mỹ được ra vào An Lộc một cách an toàn, là vì phía dưới luờn của trực thăng Mỹ và các mũ phi hành của tất cả phi hành đoàn, đều có sơn màu trắng, thay vì màu olive như các đơn vị Trực Thăng tác chiến của Việt Nam Cộng Hoà.

Như vậy, câu hỏi được đặt ra là, phía đồng minh Hoa Kỳ có đường giây bí mật nào liên lạc với địch quân , để nhận được một thoả hiệp như thế hay không? …. un quote … “”

Nguồn Website Hưng Việt 

Friday, June 17, 2016

Cuộc Chiến 1972 / Trung Tướng Ngô Quang Trưởng


Nguyên bản Anh ngữ của Cố Trung Tướng NGÔ QUANG TRƯỞNG
Kiều Công Cự chuyển ngữ
(TS/BĐQ trích đăng từng phần)


Chương 5 :BAO VÂY AN LỘC.
       KẾ HOẠCH TẤN CÔNG CỦA ĐỊCH VÀO VÙNG 3/ CT.
       Khi CSBV xua quân băng qua vùng phi quân sự tấn công vào tỉnh địa đầu Quảng Trị trong ngày 30/3/1972 thì Bộ TTM vẫn chưa xác quyết mục tiêu thật sự của địch.
       Về mặt nổi Huế là một mục tiêu trực tiếp.  Huế luôn luôn đặt lên vị trí hàng đầu vì vị trí lịch sử của nó.  Nhưng sự gia tăng lực lượng địch ở Kontum cũng báo trước sự nghiêm trọng ở vùng này.  Đã từ lâu trong lý luận của những nhà chiến lược VN và Hoa kỳ, người ta cho rằng Cộng quân sẽ mở một cuốc tấn công băng qua vùng Cao nguyên đến tận vùng bờ biển phía đông để cắt đứt Nam VN ra làm hai mảnh.  Nếu vậy thì vùng Cao nguyên sẽ trở nên một mục tiêu khá quan trọng, có ý nghĩa hết sức lớn lao về mặt chiến lược.
       Tuy nhiên người ta cũng phải quan tâm đến Vùng 3 Chiến thuật và ước tính luôn luôn Cộng quân sẽ tấn công vào tỉnh Tây Ninh và ngay cả Sài gòn nữa.  Sự bố trí quân và khả năng tiếp vận của địch dọc theo sườn biên giới phía tây với sự xâm nhập dễ dàng vào ra những mật khu trên địa phận của Lào và Miên, đã tạo nên một vấn đề suy luận rằng nỗ lực chính của đối phương có gặp những khó khăn nào hơn.  Điều lợi thế của chúng là những thành công tiên khởi trong bất cứ cuộc công kích nào có thể được tăng cường và trở thành nỗ lực chính; nếu không, nó được xử dụng như một mục tiêu chiến thuật để yểm trợ cho những cuộc tấn công khác.  Sự linh động này rất giống như những điều chúng suy nghĩ khi quân miền Nam rơi vào cuộc tấn công mùa Phục sinh ở Lộc Ninh vào ngày 2/4/1972.
       Bởi vì nó rất gần Sài gòn theo QL13, nên cuộc tấn công vào Lộc Ninh đưa đến một câu hỏi là liệu mục tiêu cuối cùng xảy ra ở đâu?  Có phải là Sài gòn, thủ đô của VNCH, là nơi mà tất cả lực lượng quân sự của miền Nam và những quyết định chính trị đều xuất phát tại đó.
       Sài gòn là một thành phố đông dân với một vùng ngoại ô rộng lớn.  Có rất nhiều con đường tiến thẳng vào Thủ đô và địch thường lợi dụng những con đường này trong những cuộc tấn công chính.  Những con đường tiến sát ở phía tây bắc và tây nam rất quan trọng.  Từ phía tây bắc địch có thể mở cuộc hành quân từ khu Tam giác sắt ( Iron Triangle) gồm có các mật khu Hố Bò, Bời Lời và Long Nguyên.  Những con đường tiến sát chạy dọc theo sông Sài gòn ở phía nam nơi có thể tiếp giáp với Quốc lộ I từ Tây Ninh và chạy theo Quốc lộ 13 từ Bình Long. Từ phía tây nam, cuộc tấn công của địch có thể được mở ra từ vùng Mỏ Vẹt (Parrot's Beak) và mật khu Ba Thu bên Kampuchia rồi băng qua khu vườn thơm của Hậu Nghĩa và cuối cùng dẫn vào Chợ lớn. Đây là con đường ngắn nhất.
       Vùng 3 Chiến thuật có 13 tỉnh vây quanh Sài gòn, trong đó tỉnh Biên Hòa là quan trọng nhất vì có khu kỹ nghệ Biên Hòa, có phi trường quân sự rộng lớn, có căn cứ tổng hợp hay còn gọi là Tổng kho Long Bình là nơi đặt bản doanh của Bộ Tư lịnh Mỹ tại VN và BCH Lực lượng Dã chiến 2 ( the US II Field Forces ).  Tỉnh quan trọng thứ hai của Vùng 3 Chiến thuật là Tây Ninh, nơi có Thánh địa đạo Cao Đài.  Ở phía tây bắc tỉnh có mật khu nổi tiếng của địch là Dương minh Châu hay còn gọi là Chiến khu C (War Zone C) là nơi ẩn náu của nhóm lãnh đạo quân sự và chính trị của địch.
       Vùng 3 Chiến thuật có 3 SĐ/BB là SĐ5,18 và 25 và 3 Liên đoàn BĐQ là 3,5 và 6.  SĐ25/BB chịu trách nhiệm 3 tỉnh là Tây Ninh, Hậu Nghĩa và Long An.  Bộ Tư lịnh SĐ và BCH các Tr/đoàn thường đặt bản doanh tại Tây Ninh.  SĐ5/BB chịu trách nhiệm 3 tỉnh Phước Long, Bình Long và Bình Dương. BTL/SĐ đóng tại Lai Khê thuộc tỉnh Bình Dương.  SĐ18/BB với vùng hành quân mở rộng qua 4 tỉnh Biên Hòa, Long Khánh, Phước Tuy và Bình Tuy. BTL/SĐ đóng tại thị xã Xuân Lộc thuộc tỉnh Long Khánh.
       Tình hình quân sự ở Vùng 3 CT kể từ cuối năm 1971 và đầu năm 1972 cho đến ngày nổ ra cuộc chiến trong Mùa Phục Sinh, được ghi nhận là rất tốt.  Những đơn vị hoạt động chính của địch gồm các SĐ chính qui CSBV là Công Trường 5,7 và 9 từ vùng biên giới phía tây bắc Kampuchia xâm nhập.  Những mật khu và căn cứ địa của địch đặt dọc theo biên giới như 713, 354 và 708 đã bị quân đội Mỹ và VNCH phá nát trong cuộc hành quân vượt biên năm 1970, bây giờ không còn hoạt động nữa.  Để củng cố lại địch đã thiết lập 3 căn cứ mới vào sâu trong lãnh thổ Miên là 711,714 và 715.
       Trong khoảng thời gian từ tháng 1 đến tháng 3 năm 1972, cơ quan quân báo miền Nam xác nhận đã có sự hiện diện của SĐ5CSBV tại Snoul, một thành phố Miên cách Lộc Ninh khoảng 30 cây số về phía tây bắc trên Quốc lộ 13.  Hai SĐ khác của địch là 7 và 9 cũng đang đóng quân tại các đồn điền Dambe và Chup (Kampuchia) nơi mà Quân đoàn 3 dự trù mở cuộc hành quân quan trọng vào tháng 9/1971, nhưng kế hoạch bị ngừng lại khi Tr/tướng Đỗ cao Trí, Tư lịnh QĐ3, đã tử thương vì một tai nạn trực thăng.  Người kế nhiệm ông là Tr/tướng Nguyễn văn Minh, người chủ trương một cuộc phòng thủ chiến lược tại vùng biên giới thay vì đem quân xâm nhập vào những căn cứ của địch ở Miên.
       Tuy nhiên trong thời gian này những vị Tư lịnh QĐ3 và QĐ4 cũng mở những cuộc hành quân riêng lẻ vào sâu trong lãnh thổ Kampuchia, kể cả những cuộc hành quân phối hợp với quân đội Miên, dĩ nhiên họ đều thông báo kế hoạch cho Bộ TTM ở Sài gòn, nhưng Sài gòn chỉ ghi nhận mà không can thiệp vào những quyết định của Tư lịnh Vùng.
       Cả 3 SĐ địch đều đã qua những đợt chỉnh quân và học tập chính trị trong suốt những tháng đầu năm 1972.  Nhưng đến cuối tháng 3, tình báo của ta đã ghi nhận được sự chuyển động của SĐ9CSBV.  Theo một tài liệu mà ta bắt được trong cuộc hành quân ở Tây Ninh thì SĐ9 đang chuyển quân đến căn cứ 708 trong vùng Lưỡi câu (Fishook Area) vào khoảng 24/3/72 và một đơn vị khác của SĐ cũng đang tập trung tại vùng phía nam của căn cứ.  Tr/đoàn 272 của SĐ9 CS cũng đang di chuyển đến vùng phía tây của Bình Long để thay thế cho Tr/đoàn 95C của SĐ đến một địa điểm nào mà ta chưa biết rõ được.  Tài liệu cũng không xác nhận và nhấn mạnh đến đơn vị đang ở phía bắc của trại BĐQ/Biên phòng Tống lê Chân.  Một sự kiện quan trọng được tài liệu này tiết lộ là cả SĐ9 và SĐ7 đã phối hợp hành động cho một chiến dịch trong tương lai.  Các Tr/đoàn và các khung chỉ huy của SĐ9 được huấn luyện đặc biệt về tác chiến trong thành phố.  Cuối cùng thì Tr/đoàn 272 nhận được một sự huấn luyện đặc biệt để hướng dẫn một cuộc tấn công vào một mục tiêu đã được lựa chọn trước.  Sự huấn luyện của địch về tác chiến trong thành phố rất có ý nghĩa vì những cuộc huấn luyện như thế này đã bị gián đoạn từ năm 1969 sau dịp tấn công vào tết Mậu thân (1968).   Không phải đến cuối năm 1971 loại diễn tập này mới được thực hiện tại các đơn vị chính qui của địch mà tài liệu còn tiết lộ SĐ9 đã được học tập đầy đủ phương thức tác chiến trong thành phố, đặc biết nhấn mạnh tầm quan trọng trong khuôn khổ phòng thủ của Quân đoàn 3.
       Cho nên, tài liệu có liên quan đến SĐ9 CSBV cho thấy một ánh sáng đầu tiên là địch đã có kế hoạch tấn công vào Quân đoàn 3.  Mục tiêu là tỉnh Bình Long chứ không phải là tỉnh Tây Ninh như tình báo của ta trước đây đã dự đoán căn cứ theo những dữ kiện thâu thập được theo thời gian của tài liệu đã bắt được cho thấy địch đã chọn nơi này làm thủ đô cho cái gọi là MTGPMN hơn là Tây Ninh.
       Ngày 27/3 tình báo ta cũng nhận được một tin tức quan trọng hơn nữa: một hồi chánh viên đã khai rằng trước đây anh ta thuộc toán trinh sát của SĐ7 có nhiệm vụ đi điều nghiên con đường tiến sát từ Tây Ninh đến Bình Long để chuẩn bị đợt chuyển quân kế tiếp của SĐ7.  Và để xác nhận chắc chắn hơn nguồn tin này, Phòng 7 và Phòng 2 Quân báo thuộc Bộ TTM, cũng tăng cường dò tìm và theo dõi những hoạt động của SĐ7 và SĐ9 dọc theo ranh giới hai tỉnh Tây Ninh và Bình Long.
       Mặc dầu những thông tin tương đối chính xác này, BTL/QĐ3 vẫn đặt trọng tâm theo dõi vào tỉnh Bình Long, một phần vì địch chưa bao giờ đặt nặng tầm quan trọng ở tỉnh này tuy đã có những trận đánh lớn vào những năm 1966 và 1967 của quân đội Mỹ mở ra để quét sạch SĐ9CSBV trên Quốc lộ 13 hơn là những tính toán về việc thành lập và kiểm soát về chính trị của MTGPMN.  QL13 chắc chắn là một đường tiến sát chính hướng về khu vực Sài gòn, nhưng khoảng đường quan trọng nhất đối với địch là khoảng hơi chếch về bắc ở Lai Khê. Con đường này không chỉ quan trọng đối với Quân đội miền Nam là nối kết giữa tỉnh Bình Dương với Lai Khê, Chơn Thành, An Lộc và Lộc Ninh, là khu vực phòng thủ chính và có những trung tâm dân cư dọc theo đó.
       Nếu xét về một vài khía cạnh thì sự sự đánh giá của BTL/QĐ3 chính xác khi đánh giá thấp Bình Long là một mục tiêu chính.  một điểm khác thì Bình Long ở xa các mật khu của địch ở vùng biên giới hơn là Tây Ninh.  Về vấn đề nhân khẩu thì sự đánh dấu trở nên vô nghĩa khi đối chiếu Bình Long 60.000 dân so với 30.000 của Tây Ninh.  Tóm lại, nếu so sánh với Tây Ninh thì Bình Long mất đi nhiều điều kiện để trở thành một mục tiêu chính mà địch quan tâm trừ hai điều sau: thứ nhất, những cuộc hành quân tấn công vào Bình Long sẽ được yểm trợ từ những căn cứ bên Miên tốt hơn bất cứ cuộc hành quân nào vào lãnh thổ của QĐ3, thứ hai là sự phòng thủ của Quân đội miền Nam ở đây yếu hơn.  Lực lượng đặc nhiệm 52 gồm hai Tiểu đoàn bộ binh của Tr/đoàn 52 thuộc SĐ18/BB với hai pháo đội 105 và 155 ly được khai triển ở căn cứ hỏa lực TF-52 nằm trên LTL-17 hai cây số về phía tây của QL13 và 15 cây số về phía bắc An Lộc, để bảo vệ trục giao thông chính giữa Lộc Ninh và An Lộc, thủ phủ của tỉnh Bình Long.
       Cộng quân bắt đầu mở cuộc tấn công vào Vùng 3 Chiến thuật trong buổi sáng sớm ngày 2/4 bằng Tr/đoàn 24 biệt lập với sự yểm trợ của tăng vào căn cứ hỏa lực Lạc Long, sát vùng biên giới 35 Km về phía tây bắc của thành phố Tây Ninh.  Căn cứ này được bảo vệ bởi một Tiểu đoàn của Tr/đoàn 49 thuộc SĐ25/BB.  Sự tấn công bằng pháo và tăng đã làm cho căn cứ thất thủ vào buổi trưa.
       Sự triệt thoái nhanh chóng của căn cứ hỏa lực Lạc Long đã đưa Quân đoàn 3 đến một quyết định cũng nhanh chóng là cho lịnh triệt thoái tất cả những căn cứ dọc theo vùng biên giới Kampuchia.  Những tiền đồn nhỏ và di động này rất khó bảo vệ với lực lượng đông đảo của địch, nên tốt hơn hết là cho di tản về sau và củng cố lại phòng thủ chiều sâu để tránh sự mất mát về người và vũ khí.
       Tiếp theo đó, tất cả những lực lượng bảo vệ những tiền đồn dọc biên giới cũng được lịnh di tản về sau để thiết lập một vòng đai phòng thủ quanh thành phố Tây Ninh, ngoại trừ một Tiểu đoàn BĐQ/ Biên phòng của Th/tá Lê văn Ngôn (Khóa 21 Đà lạt), đang có mặt tại căn cứ Tống lê Chân.  Theo ý kiến của vị Th/tá Tiểu đoàn trưởng chỉ huy căn cứ Tông lê Chân, nếu Tiểu đoàn ông rút lui thì tất cả sẽ trở nên một món mồi ngon cho địch phục kích và tiêu diệt.  Quân đoàn 3 đồng ý theo yêu cầu của ông sẽ giữ lại trại biên phòng này.  Sau ngày ngưng bắn có hiệu lực (27/1/1973) thì trại bị bao vây và tấn công liên tục của những đơn vị thuộc SĐ7CSBV, trong vòng hơn một năm, cho đến ngày Tiểu đoàn di tản vào tháng 4/1974.  Nó trở nên một bằng chứng xác thực về sự vi phạm ngừng bắn của địch và là một bằng chứng hùng hồn về sự kiên trì chiến đấu của quân lực VNCH.
       Những đơn vị biên phòng trên đường rút về thành phố Tây Ninh đã chạm súng lẻ tẻ với địch.  Những quân trú phòng ở căn cứ hỏa lực Thiện Ngôn, cách Tây Ninh khoảng 35 Km về hướng bắc, cũng bị Tr/đoàn 271 Biệt lập phục kích gây thiệt hại một số về nhân mạng và xe quân sự, đặc biệt là những khẩu pháo 105 và 155 ly.  Khi lực lượng tiếp viện của SĐ25 tiến đến vị trí phục kích ngày hôm trước, họ rất ngạc nhiên khi nhìn thấy những vũ khí và những khẩu pháo còn nguyên tại đó.  Lạ lùng hơn nữa là đơn vị tấn công đã rời khỏi nơi này, thay vì tiếp tục phục kích để đánh viện binh, hoặc gây áp lực về thành phố Tây Ninh.  Sự khó hiểu này đã được làm sáng tỏ khi sau đó ta bắt được một tù binh thuộc Tr/đoàn 271và tên này đã khai báo là đơn vị của hắn được lịnh tấn công vào đơn vị rút về từ Thiện Ngôn, chỉ nhằm mục đích đánh lạc hướng vào sự nhận định của Quân đoàn 3, để những đơn vị chính của quân BV mở một trận tấn công chính vào tỉnh Bình Long mà Lộc Ninh là mục tiêu đầu tiên.
       Mặc dầu những chi tiết của kế hoạch hành quân của địch không được biết chính xác cho đến khi mặt trận Bình Long nổ ra thì những thông tin của mặt trận tình báo cũng trở nên dồn dập, giải đáp được nhiều thắc mắc. VC đã tung vào chiến trường Bình Long 3 Sư đoàn và hai tr/đoàn biệt lập với Trung đoàn thiết giáp.  Giai đoạn đầu là đánh lạc hướng bằng cách xử dụng hai Tr/đoàn 24 và 271 địa phương phá rối ở Tây Ninh. Giai đoạn 2 mở cuộc tấn công vào Lộc Ninh bằng SĐ5 CSBV và sau đó xử dụng SĐ9 tấn công và chiếm giữ thị trấn An Lộc, nơi mà bọn chúng muốn đặt cái gọi là thủ đô của MTGPMN ở đây.  Trong khi đó chúng xử dụng SĐ7 để án ngữ phía nam của An Lộc và ngăn chận không cho những đơn vị tiếp viện tiến về An Lộc theo Quốc lộ 13. Sau khi chiếm Lộc Ninh, SĐ5VC sẽ tiến về Tây Ninh, cô lập thành phố và đánh phá những lực lượng của SĐ25 đang bảo vệ ở đây.
       TẤN CÔNG LỘC NINH:
       Cuộc tấn công vào Lộc Ninh mở đầu bằng một cuộc pháo kích trên Quốc lộ 13, cách thị xã An Lộc khoảng 5 Km về phía bắc vào ngày 4/4/72.  Trong khi nhận được lịnh các lực lượng biên phòng triệt thoái về bảo vệ Lộc Ninh thì một Chi đoàn (-) Thiết kỵ có bộ binh của Tr/đoàn 9 thuộc SĐ5 tùng thiết đã bị một Trung đoàn của SĐ5 CSBV phục kích.  Một số còn sống sót đã về đến thị trấn.  Trong buổi sáng sớm ngày hôm sau thì lực lượng phòng thủ Chi khu Lộc Ninh báo cáo là họ nghe tiếng tăng địch đang di chuyển.  Vài giờ sau đó, pháo địch đã bắt đầu và tiếp theo đó là lực lượng địch tấn công vào Chi khu và các căn cứ phòng thủ của Tr/đoàn 9 thuộc SĐ5/BB ở gần đấy.
       Lực lượng phòng thủ đã chống trả quyết liệt và các phi tuần không quân chiến thuật Mỹ đã dội bom vào những đơn vị địch do các cố vấn Mỹ điều chỉnh.  Đến xế chiều đơn vị địch chiếm phi đạo Lộc Ninh đã bị phi cơ Mỹ xử dụng bom CBU dọn sạch.  Sáng sớm hôm sau, ngày 6/4 địch lại mở cuộc tấn công, lần này có sự tăng cường của một Tiểu đoàn thiết giáp, khoảng từ 25 đến 30 chiếc.  Mặc dầu pháo binh của ta đã hạ nòng trực xạ để ngăn tăng địch tiến tới, Lộc Ninh cũng phải di tản vài giờ sau đó.  Một số đông binh sỉ đã về đến An Lộc trong ngày 11/4.  Ngày hôm sau vị Chi khu trưởng Lộc Ninh và cố vấn trưởng cũng đã về đến nơi.
       Trong thời gian Lộc Ninh bị tấn công, BTL/SĐ5 đã ra lịnh cho lực lượng đặc nhiệm 52 xử dụng một Tiểu đoàn tăng cường bảo vệ Chi khu.  Buổi sáng hôm sau Tiểu đoàn này đã đến giao điểm của Liên tỉnh lộ 17 và Quốc lộ 13 vừa chiến đấu vượt qua chốt địch và đã đến được Chi khu.  Trong lúc đó một Tiểu đoàn thứ hai cũng đã quét sạch địch ở phía tây của căn cứ, đã khám phá ra một đơn vị địch đang đào hầm hố chuẩn bị phục kích, Tiểu đoàn đã tấn công trước và gây cho địch những thiệt hại nặng nề.  Liền sau đó, BCH của lực lượng đặc nhiệm bị pháo kích nặng nề ở căn cứ.
       Trong thời gian sau đó, Lộc Ninh phải triệt thoái.  Lực lượng đặc nhiệm 52 cũng nhận được lịnh lui về An Lộc để tăng cường phòng thủ nhưng họ đã bị chận lại và tấn công trên cùng một giao lộ.  Sau lần đụng độ này, LLĐN52 đã ra lịnh cho các đơn vị còn lại dạt vào trong những khu rừng và xử dụng nhiều con đường để về An Lộc.  Mặc dầu có thương vong và mất mát nhiều, LLĐN 52 vẫn gom quân và tăng cường phòng thủ An Lộc.
       BAO VÂY VÀ NHỮNG TRẬN TẤN CÔNG ĐẦU TIÊN VÀO AN LỘC:
       Chỉ sau khi VC mở cuộc tấn công vào quận Lộc Ninh thì Tr/tướng Nguyễn văn Minh, Tư lịnh Quân đoàn 3, quyết đoán rằng thị xã An Lộc là mục tiêu đầu tiên mà địch nhắm tới.  Ông ta cũng nhận định rằng: "Nếu An Lộc bị thất thủ thì Sài gòn sẽ bị đe dọa vì chỉ còn hai chướng ngại vật chính trên Quốc lộ 13 là bắc Chơn Thành và Lai Khê.  Cho nên An Lộc phải được tăng viện ngay và phải giữ bằng mọi giá."
       Tướng Minh đã hành động nhanh chóng.  BTL/SĐ5 dưới sự chỉ huy của Ch/tướng Lê văn Hưng và hai Tiểu đoàn của Liên đoàn 3 BĐQ được trực thăng vận vào ngay An Lộc.  Cuộc không vận đã hoàn tất trong ngày 5/4 mà không gặp một trở ngại nào và ở thời điểm này thì Quân đoàn 3 không còn một lực lượng trừ bị nào hết.
       Trong cuộc họp ngày 5/4 tại dinh Độc Lập ở Sài gòn để duyệt xét tình hình chiến sự trên cả nước, tướng Minh yêu cầu được tăng viện để phòng thủ An Lộc.  Nhưng đòi hỏi của ông không được xét theo mức độ ưu tiên vì mức độ nghiêm trọng khi Cộng quân vượt qua sông Bến hải và tấn công vào Quảng Trị và sự gia tăng một cách đáng ngại của địch ở Vùng 2 Chiến thuật.  Hầu hết những đơn vị trừ bị của Bộ TTM đã tăng cường cho hai Vùng này rồi.  Để tăng cường cho Vùng 3 chỉ còn cách xử dụng một Lữ đoàn Dù duy nhất còn lại hay rút ra một SĐ/BB từ Vùng 4.  Câu hỏi được đặt ra cho buổi họp là đơn vị nào thật sự thích hợp cho Quân đoàn 3.
       Buổi họp này có sự tham dự của Tư lịnh bốn quân khu, tướng Quang, tướng Viên cũng như Tổng thống Thiệu và Thủ tướng Khiêm.  Nhu cầu tăng thêm viện quân cho 4 Quân khu được đem ra bàn luận.  Khi có sự đề nghị đưa SĐ21 cho Quân đoàn 1 thì tướng Quang cho rằng tình hình An Lộc còn nghiêm trọng hơn nhiều so với những biến cố ở Quảng Trị.  Nếu quân BV thành công trong việc chiếm An Lộc và đặt cái gọi là thủ đô cho MTGPMN tại đây thì sự tổn thương về mặt tâm lý và chính trị đối với chính quyền miền Nam là không thể chấp nhận được.  Tổng thống Thiệu đồng ý và vấn đề xử dụng một SĐ tại Vùng 4 cho Vùng 3 là một vấn đề khả thi.  Đầu tiên là SĐ 9 được đề nghị, nhưng lúc đó với tư cách là Tư lịnh Quân đoàn 4, tôi đã đề nghị SĐ21 với hai lý do sau:
       - Thứ nhất là SĐ21 đã vừa thành công với cuộc hành quân tìm và diệt địch ở rừng U Minh và đặc biệt SĐ21 rất thiện chiến trong những cuộc hành quân di động.
       - Thứ hai, SĐ21 đã từng được chỉ huy bởi tướng Minh nên việc đặt SĐ này trở lại dưới sự điều động và kiểm soát của Quân đoàn 3, sẽ đem lại sự hoàn thành nhiệm vụ một cách tốt nhất cho SĐ.
       Ngày 7/4 Lữ đoàn 1 Dù đã được lịnh di chuyển bộ từ Lai Khê đến Chơn Thành.  Từ đấy Lữ đoàn sẽ mở một cuộc hành quân tiến về phía bắc để khai thông Quốc lộ 13 dẫn đến An Lộc và giữ con đường tiếp tế huyết mạch này.  Nhưng khi đơn vị tiền quân của Dù tiến qua khỏi bắc Chơn Thành khoảng 6 Km, cách An Lộc 15 Km thì đã bị một Tr/đoàn của SĐ7VC chận lại bằng những vị trí chốt kiền trận địa pháo trên khu vực suối Tàu Ô.  Cộng quân tìm mọi cách để chế ngự con đường này và cắt đứt mọi viện binh và tiếp liệu vào An Lộc.
       Sau khi chiếm được Lộc Ninh, SĐ5VC bắt đầu chuyển về phía nam, hướng An Lộc.  Bắt đầu ngày 7/4, dân chúng địa phương sống ở những vùng phụ cận và công nhân của những đồn điền cao su gần đó cho biết quân chính qui BV đã có mặt trong vùng này.  Một thời gian ngắn sau đó, tất cả những thực phẩm bày bán tại những chợ địa phương quanh An Lộc, đặc biệt là đường tán và thực phẩm khô được bán hết sạch trong ngày.  Tin tức tình báo cho biết những hậu cần của địch đã mua hết những thực phẩm này để giữ lại tiếp tế cho những đơn vị đang di chuyển đến mặt trận.
       Thị xã An Lộc chưa bị tấn công nhưng phi đạo Quản Lợi, 3Km về phía đông, đã bị pháo và bộ binh địch tấn công trong đêm 7/4.  Cuộc tấn công mở ra khá dữ dội đến nổi hai Đại đội bảo vệ phi đạo được lịnh phá hủy hai khẩu pháo 105 ly bố trí tại đây và triệt thoái về thị xã.  Hai ngày sau họ mới về tới đây.
       Phi đạo Quản Lợi bị rơi vào tay giặc khiến An Lộc gần như bị cô lập hoàn toàn, bởi vì sự liên lạc bằng đường không và đường bộ với thị xã đều bị cắt đứt.  Phi đạo Quản Lợi nằm trên một thế đất cao chế ngự hoàn toàn phía đông của thị xã và địch đã xử dụng vị trí này để đặt pháo và điều chỉnh pháo vào thị xã một cách chính xác chết người.  Tuy nhiên SĐ9 VC vẫn chưa mở ra cuộc tấn công mà còn nằm lì tại chỗ nhiều ngày sau đó.  Lý do của sự trì hoãn này, sau này được những tù binh cung khai là những sự chuẩn bị về tiếp vận đã không kịp yểm trợ cho chiến trường này.  Theo kế hoạch của Cộng quân, chúng phải xử dụng một tuần lễ để quấy phá và tấn công những tiền đồn dọc theo biên giới của quân miền Nam và trong thời gian này tiếp liệu sẽ được chuyển về phía trước cho cuộc tấn công vào An Lộc.  Những cuộc di tản của những tiền đồn dọc biên giới do Tư lịnh Quân đoàn 3 đưa ra làm cho kế hoạch của địch bị xáo trộn và SĐ9 phải hoãn lại cuộc ra quân sau khi đã chuyển đến vị trí tấn công.  Đến ngày 7/4, thị xã An lộc đã hoàn toàn bị bao vây và phi đạo dĩ nhiên là không xử dụng được.  Từ ngày 7 đến ngày 12/4 mọi phi vụ tiếp tế đều xử dụng trực thăng và thả dù bằng C123.  Nhưng đến ngày 12/4 thì một chiếc trực thăng Chinook CH47 bị phòng không địch bắn hạ nên việc xử dụng trực thăng cũng phải chấm dứt.  Rồi từ đó đến ngày 19/4 mọi tiếp tế đều bằng thả dù từ C123.  Để đạt được kết quả, phi công phải bay ở cao độ thấp trên bãi thả. Nhưng đến phi vụ thứ 40 thì một C123 cũng bị bắn hạ.
       Trong khi đó, SĐ21 dưới sự chỉ huy của Th/tướng Nguyễn vĩnh Nghi, đã tăng cường cho Quân đoàn 3 và Tr/đoàn 8 thuộc SĐ5 với hai Tiểu đoàn được lịnh tăng cường phòng thủ An Lộc.  Cuộc trực thăng vận hoàn tất trong hai ngày 11 và 12/4.  Như vậy quân số phòng thủ An lộc lên tới 3.000 người kể cả những đơn vị ĐPQ và NQ. Những chiếc Chinook CH47 được xử dụng liên tục để chuyển vận tiếp tế, lương thực, tải thương và di tản đồng bào tỵ nạn.  Tình hình trong thị xã nghiêm trọng hơn từng giờ.  Những toán tuần tiễu của ta ở bên ngoài thị xã đã gia tăng đụng độ với những đơn vị địch ở phía đông bắc và đông nam.  Những người dân tị nạn đổ dồn vào thị xã càng ngày càng đông và họ đều báo rằng họ đã nhìn thấy tận mắt những thiết giáp và pháo của địch.  Tất cả những chuẩn bị cho một tấn công lớn vào An Lộc đã xảy ra ngày 12/4 khi màn đêm buông xuống.
       Trong những giờ phút đầu tiên của ngày 13/4, những đợt pháo dữ dội của địch đã đổ lên thị xã.  Và khi vầng đông vừa ló dạng, những đơn vị phòng thủ ở hưóng tây bắc báo cáo đã thấy những đoàn tăng địch và xe quân sự đang tiến vào thị xã.  Một chiếc AC-130 Specter đang có mặt trên vùng đã tấn công thẳng vào đoàn quân và đã phá hủy một tăng, 4 chiếc xe quân sự của địch.  Cùng lúc đó nhiều tăng khác của địch cũng được báo cáo ở phía bắc của tuyến phòng thủ.  Đến 0600G trận tấn công thứ nhất đã bắt đầu ở những vị trí phía tây của Tr/đoàn 7.  Tuy nhiên những nỗ lực chính hình như được khai triển ở phía bắc với những chiến xa xung kích.  Những lực lượng thiện chiến của địch đã mở ra một cuộc tấn công tràn ngập và lực lượng phòng thủ miền Nam đã được lịnh lui về tuyến sau.
       Một sự kiện nổi bật đáng chú ý là trong những giờ phút đầu tiên của cuộc chiến là tính hiệu quả của loại hỏa tiễn cầm tay M72 LAW.  Đúng vậy chiếc tăng đầu tiên tiến vào thị xã đã bị một anh lính Nghĩa quân xử dụng M72 bắn hạ.  Chiến công này đã được loan truyền rất nhanh trong hàng ngũ quân đội miền Nam và điều này làm gia tăng sự tin cậy của mọi người.  Chỉ trong một thời gian ngắn mà nỗi lo sợ về tăng địch đã hình thành từ lâu bây giờ đã tan biến mất.  Trong lúc này, nhiều chiếc tăng địch đã chọc thủng phòng tuyến và băng qua thị xã, nhưng chúng đã bị lạc lõng và nhìn quanh không có bóng dáng bộ binh tùng thiết.  Có một chiếc T54 chạy dài theo QL13 từ bắc xuống nam mà không nhắm được một mục tiêu nào và đã bị M72 phá hủy.  Cuối cùng có 4 chiếc T54 bị bắn hạ và những chiếc khác bỏ chạy trốn trong khi nhân viên trên xe bắn hết đạn.  Ta bắt sống được nhiều tù binh, một tên đã khai rằng hắn thuộc Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 203 Thiết giáp.  Đơn vị hắn từ miền bắc di chuyển qua hạ Lào rối đến đất Miên.  Đơn vị hắn nhận lịnh chỉ trong ngày hôm trước di chuyển đến biên giới vào tỉnh Bình Long và tham gia vào trận đánh An Lộc.
       Vị tư lịnh Quân đoàn 3 tỏ ra ngạc nhiên vì sự hiện diện của tăng địch ở Bình Long và ông đã trách Phòng 2 đã không cung cấp cho ông những dữ kiện đúng lúc.  Nhưng thật ra từ ngày đầu tháng 10/1971, những bản phúc trình của tình báo ta đã xác nhận sự hiện diện của tăng địch ở vùng Kratie, Dambe và Chup trên lãnh thổ Kampuchia.  Tháng 12/71 vị Trưởng phòng 2 của Bộ TTM quân đội Quốc gia Miên cũng đã xác nhận, hiện có khoảng 30 tăng địch đang ở căn cứ 361 theo những nguồn tin đáng tin cậy ở địa phương.  Tuy nhiên những không ảnh đã không chụp được những dấu vết của tăng địch đang di chuyển phần nhiều vào ban đêm.  Quả thật những bản phúc trình tình báo của quân miền Nam và Kampuchia không thuyết phục được vị Tư lịnh Quân đoàn 3.  Còn địch thì cho rằng sự tham chiến của tăng ở Vùng 3 là yếu tố chính dẫn đến thành công.  Chúng quả quyết chúng có thể chiếm An Lộc từ 5 đến 10 ngày, nếu một sự cố nào thì cũng kéo dài 10 ngày thôi.
       Để bảo đảm sự tấn công và cũng bởi vì nhận thấy những cấp chỉ huy ở cấp trung đoàn và sư đoàn không có bất kỳ một kinh nghiệm nào về việc phối hợp tác chiến giữa bộ binh và thiết giáp, nên đảng ủy MTGPMN đã giao cho BCH chiến dịch trực tiếp điều động và kiểm soát những đơn vị tăng.  Và kết quả thì thật là thảm hại.  Rõ ràng tăng địch được lịnh mở cuộc tấn công và chạy xuyên qua chu vi phòng thủ của ta mà không hề có bất cứ một sự yểm trợ hay bảo vệ nào của bộ binh. Trong ngày 13/4, cả hai Tr/đoàn 271 và 272 thuộc SĐ9 VC đã mở cuộc tấn công tổng lực.  Những đơn vị phòng thủ cũng chống trả mãnh liệt và nhất là sự hiệu quả của những đợt yểm trợ của không quân chiến thuật Mỹ và pháo đài bay B52.  Địch đã bị tàn sát trong ngày này ít nhất là 400 tên mà một nửa là do không quân Mỹ sát thương.  Tuy nhiên bất chấp những thương vong cao, địch tiếp tục mở cuộc tấn công trong ngày 14/4, từ buổi sáng sớm chúng đã mở những cuộc pháo kích phủ đầu, rồi xua thiết giáp cùng một số bộ binh đi theo.  Một chiếc tăng đã tiến đến bản doanh SĐ5/BB khoảng 500m trước khi bị bắn hạ.  Cuối cùng mọi nỗ lực trong ngày của địch cũng mang lấy sự thất bại.
       Trong hai ngày chiến đấu, tinh thần chiến đấu của những lính phòng thủ vẫn ở một mức độ cao đáng chú ý. Tất cả đều hiểu rõ một điều: Họ chẳng còn một sự lựa chọn nào hơn là cố thủ hay là bị tiêu diệt.  Và họ cũng quyết tâm giữ lấy thị xã An Lộc này.  Họ đều nhận thức rằng họ không bao giờ chiến đấu đơn độc, luôn luôn được bảo đảm về tiếp vận và sẵn sàng được tăng viện. S ự nhận thức đứng đắn này lan tỏa trên toàn trận tuyến An lộc.
       Lữ đoàn 1 Dù đã lui ra khỏi khu vực suối Tàu Ô, nhanh chóng được bổ sung và trực thăng vận vào đồi 169 và đồi Gió khoảng 3Km ở phía đông nam An Lộc trong hai ngày 13 và 14/4.  Sự hiện diện của các đơn vị Dù ở những vùng lân cận bị cô lập bên ngoài thị xã đã có một tác dụng hết sức mạnh mẽ đối với lực lượng phòng thủ và dân chúng địa phương.  Niềm tin của họ càng được tăng lên khi nghe tin SĐ21 từ vùng đồng bằng sông Cửu Long đã tiến vào khu vực suối Tàu Ô và đang tiến về phía bắc để giải tỏa cho An lộc.  Khi Cộng quân mở lại cuộc tấn công vào ngày 15/4 với sự yểm trợ của 11 chiếc tăng và những chiếc tăng này đã trở nên những mục tiêu cho quân miền Nam đua nhau bắn hạ.  Một trong những chiếc tăng này tìm cách tiến tới Trung tâm hành quân của SĐ5/BB và bắn một quả đạn vào làm bị thương một sỉ quan ban 3 của Tiểu khu Bình Long và hai sỉ quan tham mưu khác.  Khi những khói lửa đã tan đi trong ngày, 9 trong 11 chiếc tăng địch đã bị phá hủy hoàn toàn.
       Mặt trận An lộc hơi dịu lại trong ngày 16/4.  Sau 3 ngày lâm chiến, địch đã mất 23 chiếc tăng, đa số là T54 và T59.  Tuy nhiên một phân nửa thị xã ở phía bắc vẫn còn nằm trong tay địch và những đơn vị địch vẫn bố trí đối diện với ta, nhiều khi chỉ cách nhau một con đường và lực lượng địch vẫn còn tiếp tục bao vây thị xã.
       Những nỗ lực đầu tiên của địch để chiếm lấy An Lộc đã không thành công và Cộng quân đã sửa đổi lại kế hoạch cho những lần kế tiếp.  Chúng quyết định dồn mọi nỗ lực cho lực lượng chính mở cuộc tấn công vào Lữ đoàn 1 Dù ở đồi 169 và đồi Gió ở phía đông nam của thị xã.  Nỗ lực thứ hai này được giao cho Tr/đoàn 275 thuộc SĐ5VC và Tr/đoàn 141 của SĐ7VC.  Nhưng trách nhiệm chính tấn công vào An Lộc vẫn là SĐ9VC.  Để giảm thiểu hiệu quả của những đợt không kích, VC đã cho kéo những súng phòng không đến gần vòng đai phòng thủ.
       Một điều đáng nói là kế hoạch mới của VC đã bị ta bắt được trong ngày 18/4.  Trong một cuộc phục kích trên đường giao liên gần căn cứ Tống lê Chân, BĐQ/ Biên phòng đã bắn chết một số VC và trong khi lục soát đã tìm thấy một trang giấy viết tay của tên Chính ủy SĐ9 VC gởi cho Bộ tư lịnh MTGP.  Bức thư phân tách sự thất bại của cuộc tấn công của SĐ9VC và được qui vào hai lý do sau:
       - Thứ nhất là sự can thiệp của không quân chiến thuật và B52 của Mỹ rất có hiệu quả và đã tàn phá lực lượng tấn công rất nhiều.
       - Thứ hai là sự phối hợp không đồng bộ giữa thiết giáp và bộ binh.
       Bản phúc trình còn ghi rõ kế hoạch tấn công mới vào An Lộc sẽ được bắt đầu vào ngày 19/4.  Với kế hoạch này thì Cộng quân rất tin tưởng việc chiếm đóng An Lộc chỉ là vấn đề thời gian.  Hà nội cũng tin tưởng như vậy cho nên đài phát thanh Hà nội cũng đã thông báo An Lộc sẽ được giải phóng và chính phủ lâm thời của MTGP sẽ ra mắt tại thị xã này trong ngày 20/4/72.
       Trong buổi sáng sớm ngày 19/4, Địch bắt đầu mở cuộc tấn công theo như những diễn tiến đã ghi trong tài liệu mà ta bắt được.  Địch xử dụng pháo 130 ly và hỏa tiễn có đạn đạo thẳng bắn vào thị xã.  Hai Tr/đoàn 275 và 141 mở cuộc tấn công dữ dội vào Lữ đoàn 1 Dù tại đồi 169 và đồi Gió, với sự yểm trợ của 6 chiếc tăng.  BCH/LĐ và TĐ6 Dù ở đồi 169 đã bắt buộc phá hủy hai khẩu pháo 105 ly và rút lui.  Hai Đại đội của TĐ6 Dù cũng phải rút về An Lộc.  Thành phần còn lại của Đại đội Dù cũng bị tấn công chia cắt và phải lui về phía nam.  Sau đó họ đã gom quân và được trực thăng đưa về Chơn Thành.  Tất cả 6 chiếc tăng của địch đều bị phá hủy, nhưng những cao điểm chế ngự về phía đông nam thành phố vẫn nằm trong tay giặc.
       Cuộc tấn công của SĐ9VC một lần nữa bị thất bại.  Những đơn vị của SĐ9VC không thể nào tiến quân qua những vị trí cố thủ của quân miền Nam ở phân nửa thị xã ở phía nam.  Địch phải điều chỉnh lại kế hoạch tấn công, chúng định chuyển quân về phía tây nam đến Quốc lộ 13 và mở cuộc tấn công vào thị xã từ phía nam.  Nhưng kế hoạch này không bao giờ thực hiện được khi địch khám phá trong ngày 21/4 khu vực cầu nối này, ở một đồn điền phía nam thị xã đã được hai Tiểu đoàn thuộc LĐ1 Dù phòng thủ và bảo vệ một cách vững chắc.

Paul Tran / An Lộc Memory

The following information is taken from my correspondence with Paul Tran whose family is from An Loc:
I grew up in An Loc and was 7 years old when the siege happened. My mother and 6 of my other siblings had to escape on foot down Hwy. 13 to Chon Thanh after surviving the mortar barrages as we passed by the garrison on our way out of the city and then being held captives by the NVA for a few days. I still have vivid memories of the supply parachutes coming down and the carnage along the road. Through some of the aerial photos and some help from my older brother, I was able to look up the house where we used to live, the Catholic School where I attended, and the path I took everyday to go to school.
I am very glad that you took the time to put up this website. It has helped me, in a way, to bring to closure to some of those horrible childhood memories. I still have vivid memories of my childhood years in An Loc and the ordeal of 1972.
After An Loc, my family ended up living in refugee camps until the time we left the country, April 30th, 1975. Me and four of my sisters had to go through another similar ordeal at Xuan Loc, the last stand before Saigon fell to the commies.

Video the Battle of An Lộc



The Battle of An Lộc was a major battle of the Vietnam War that lasted for 66 days and culminated in a decisive victory for South Vietnam. In many ways, the struggle for An Lộc in 1972, was an important battle of the war, as South Vietnamese forces halted the North Vietnamese advance towards Saigon.
The 6000 men of the 5th ARVN Division had reinforcements consisting of the 21st ARVN Division which was plagued by a very slow move from the Delta area in the south of the country and as such did not arrive in time to make a significant attempt at breaking the siege. The 1st Airborne brigade also had a tough time tracking up route 13 due to resistance from the NVA 7th and managed to fight their way in around the 13th of April. Two Airborne brigades were rushed in to reinforce the defenders when Loc Ninh fell and as such were the only meaningful reinforcements to the beleaguered ARVN 5th Division.
The ARVN defenders did have one card to play throughout the battle, the immense power of US air support. The use of B-52 Stratofortress bombers (a strategic strike craft capable of carrying one hundred and eight MK82 (500 pound) bombs on one run) in a close support tactical role, as well as AC-119 Stinger and AC-130E Spectre gunships, fixed wing cargo aircraft of varying sizes, Cobra attack helicopters and M72 LAW's. These methods worked to blunt the offensive from the North Vietnamese Army. At this stage in the war the NVA often attacked with PT-76 light and T-54/55 medium tanks spearheading the advance, usually preceded by a massive artillery barrage. These tactics reflected Soviet doctrine, as the NVA had been supplied with Soviet (and Chicom-Chinese Communist) equipment; including jets, artillery, and Surface to Air Missiles (SAMs) since the beginning of the war.The battle eventually stagnated and became a periodic trade of artillery barrages, most probably as a result of casualties sustained in frustrated attacks on heavily entrenched enemy positions that could call in a withering array of supporting fire power.
On the 11th of May 1972 the North Vietnamese Army launched a massive all-out infantry and armor (T-54/55 medium tanks) assault on the town. This attack was thwarted in a now-familiar fashion. Almost every B-52 in South East Asia was called in to strike the massing enemy tanks and infantry. The commander of the defending forces had placed a grid around the town creating many "boxes" each measuring 1km by 3km in size which were given a number and could be called by ground forces at any time, the B52 Arclight cells (groups of 3 Aircraft) were guided onto these boxes by ground based radar. During the 11th and 12th of May, the US Air Force managed an "Arc Light" mission every 55 minutes for 30 hours straight, using 170 B-52's and smashing regiments of NVA in the process.
Two more offensives by the (NVA) PAVN took place on 12th and 14th of May; but these did not have the same venom as the attack of 11 May, and the NVA directed its main efforts to cutting off any more relief columns. However, by the 9th of June this had proven ineffective, and the defenders were able to receive the injection of manpower and supplies needed to sweep the surrounding area of North Vietnamese forces. By the 18th of June 1972 the battle had been declared over.
The victory, however, was not complete, as route 13 still was not closed, and South Vietnamese bases from An Lộc to Chon Thanh were abandoned.

Hình Ảnh An Lộc


 Cô giáo Pha với 2 câu thơ 
An Lộc địa sử ghi chiến tích
Biệt Cách Dù Vị Quốc Vong Thân